Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Phiên bản di động Phiên bản đầy đủ

TÀI LIỆU KỲ HỌP



TÀI LIỆU PHIÊN HỌP TT HĐND

HĐND / Hoạt động giám sát HĐND

A+ | A | A-

Rà soát quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ

Người đăng: dangtin Ngày đăng: 9:21 | 25/03 Lượt xem: 612

Việc triển khai các dự án thủy điện nhằm đảm bảo nhu cầu cung ứng điện cho toàn tỉnh, góp phần đảm bảo nguồn năng lượng điện của quốc gia, tăng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người dân... tuy nhiên cũng cần cân nhắc, rà soát, loại khỏi quy hoạch đối với những thủy điện chiếm diện tích đất lớn, không triển khai đúng tiến độ cam kết.

Kết quả đạt được

Theo báo cáo của Sở Công Thương cho biết, đến nay, trên điện bàn tỉnh Quảng Nam có tổng cộng 30 dự án thủy điện vừa và nhỏ với tổng công suất theo thiết kế là 47,56MW; điện lượng bình quân đạt 1.946,72 triệu kWh/năm. Trong đó, có 14 dự án đã vận hành phát điện với tổng công suất là 263,96MW, điện lượng bình quân năm 987,91 triệu kWh/năm; 10 dự án đang thi công xây dựng với tổng công suất là 201,8MW. Dự kiến trong năm 2022 sẽ có thêm 06 dự án đưa vào vận hành phát điện, gồm các dự án thủy điện Nước Biêu, Đăk Di 1, Đăk Di 2, Tầm Phục, Tr’Hy, Nước Chè. Còn 06 dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư để khởi công xây dựng với tổng công suất là 81,8MW. 


Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh làm việc với Sở Công Thương và UBND huyện Nam Giang.

Nhìn chung, các dự án thủy điện thực hiện theo quy hoạch đảm bảo nhu cầu cung ứng điện cho toàn tỉnh, đảm bảo nguồn năng lượng điện của quốc gia, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giúp tăng thu ngân sách tỉnh, đặc biệt là các huyện miền núi khó khăn, có điều kiện địa hình, vị trí địa lý không thuận lợi trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội với các loại hình kinh tế khác. Trong giai đoạn 2015 - 2019, các nhà máy thủy điện đã cung cấp cho hệ thống điện khoảng 13,93 tỷ kWh điện (bình quân 2,785 tỷ kWh điện/năm). Năm 2021, tổng sản lượng điện các nhà máy thủy điện là 4.770,68 triệu kWh. Mặc dù, tỷ lệ đóng góp cho ngân sách nhà nước từ các nhà máy thủy điện không ổn định, song gần đây có chuyển biến tăng. Theo số liệu từ Cục Thuế tỉnh, năm 2017, các doanh nghiệp thủy điện đã đóng góp được 894,304/14.383,18 tỷ đồng thu nội địa của tỉnh (chiếm 6,22%); năm 2018: 684,997/19.128,552 tỷ đồng (chiếm 3,58%); năm 2019: 542,260/18.998,004 tỷ đồng (chiếm 2,85%); năm 2020 khoảng 850 tỷ đồng và năm 2021 là 1.147,41 tỷ đồng.

Việc triển khai xây dựng các nhà máy thủy điện đã góp phần huy động được nguồn lực để đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ cho người dân vùng dự án: đường giao thông, trường học, trạm y tế, hệ thống điện, nước, nhà tình nghĩa, công trình phúc lợi... đồng thời, cũng giải quyết một phần lực lượng lao động địa phương trong quá trình xây dựng cũng như vận hành phát điện. Đến nay, các nhà máy thủy điện đã tạo được việc làm cho 1.534 người, trong đó có 736 lao động là người Quảng Nam (có 338 lao động là người địa phương (huyện) nơi có dự án). Đã huy động được nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nòng cốt là các doanh nghiệp nhà nước. Trong giai đoạn 2007-2020, các dự án thủy điện đã đầu tư với tổng số vốn khoảng 35.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng từ nguồn đóng của các dự án thủy điện đã giúp cho người dân tham gia bảo vệ rừng có thêm nguồn thu nhập ổn định, góp phần cải thiện cuộc sống gia đình, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, qua đó góp phần tăng nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng, góp phần phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng. Năm 2021, các nhà máy thủy điện đã nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được tổng cộng 163,685 tỷ đồng; lũy kế đến hết năm 2021 được 956,962 tỷ đồng. 

Một số dự án thủy điện vừa và nhỏ khi vào hoạt động sẽ tạo thêm một nguồn cấp điện (từ các trạm biến áp đấu nối các nhà máy thủy điện) đảm bảo ổn định, chất lượng cho khu vực các huyện miền núi để phát triển kinh tế - xã hội. Việc quản lý, vận hành và chế độ thông tin, báo cáo của các công trình hồ chứa thủy điện thực hiện đảm bảo theo Quy trình vận hành liên hồ chứa, đơn hồ chứa và các Quy chế phối hợp được ký kết, qua đó đã góp phần đáng kể trong việc giảm lũ, chậm lũ cho hạ du trong mùa lũ và đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp cho nhân dân vùng hạ du và chống xâm nhập mặn trong mùa cạn. Trong các năm gần đây, mặc dù các vùng lân cận đều có xảy ra tình trạng thiếu nước do hạn hán thì Quảng Nam vẫn cơ bản đảm bảo được nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của người dân vùng hạ du.

Kiến nghị rà soát, loại khỏi quy hoạch những dự án thủy điện chậm tiến độ, kém hiệu quả

Bên cạnh những lợi ích từ việc triển khai các dự án thủy điện nêu trên, vẫn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế cần được xem xét trong việc rà soát quy hoạch thủy điện trong thời gian đến. Theo thống kê cho thấy, hầu hết các dự án thủy điện đều nằm ở các khu vực miền núi nên ít nhiều đều có tác động đến các loại đất rừng. Trong số 30 dự án thủy điện vừa và nhỏ đã ảnh hưởng đến 2.973 ha đất các loại; tại huyện Nam Giang có một số thủy điện công suất nhỏ, tuy nhiên diện tích chiếm đất khá lớn như thủy điện Chà Vàl (42,11 ha), Đắc Pring 2 (45,2 ha), Sông Bung 3A (46,19 ha)... Một số diện tích đất khai hoang cấp cho dân từ chủ đầu tư các dự án thủy điện rất xấu, sản xuất hiệu quả thấp. Người dân tái định cư được tham gia và hưởng lợi từ việc chăm sóc, bảo vệ rừng nhưng thu nhập cũng chưa cao. Báo cáo tại buổi làm việc với Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh vừa qua, Chủ tịch UBND huyện Nam Giang A Viết Sơn cho biết “Việc đóng góp cho ngân sách địa phương từ thủy điện vừa và nhỏ không đáng kể, trong khi ảnh hưởng lớn đất đất sản xuất người dân, làm hư hỏng các tuyến đường ĐH, tác động đến môi trường vùng hạ lưu”.

Một số dự án thủy điện vừa và nhỏ sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, các chủ đầu tư không triển khai đúng tiến độ cam kết, làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các nội dung theo quy hoạch thủy điện được duyệt; ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Riêng dự án thủy điện Đắc Pring 2 tại huyện Nam Giang, Sở Công Thương cho biết, theo quy hoạch thiết kế công suất 8,0MW với diện tích chiếm đất là 45,2 ha thuộc địa phận xã Chà Val; với tiến độ cam kết khởi công tháng 01/2018, phát điện tổ máy số 01 vào tháng 8/2019, tuy nhiên đến nay Chủ đầu tư chưa thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, không triển khai dự án, chậm 36 tháng so với cam kết. Do đó, Sở Công Thương đã thực hiện các thủ tục chấm dứt hoạt động dự án, đề nghị loại khỏi quy hoạch dự án thủy điện này. Tại buổi làm việc, lãnh đạo UBND huyện Nam Giang cũng thống nhất với đề nghị của Sở Công Thương; đồng thời đề nghị tỉnh theo dõi tiến độ thực hiện các dự án thủy điện, kiên quyết thu hồi dự án chậm tiến độ, loại khỏi quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ của tỉnh để huyện có cơ sở quy hoạch sử dụng đất vào mục đích khác của địa phương, tạo điều kiện người dân sản xuất./.

Tác giả: Vinh Phạm

[Trở về]

Các tin mới:

Các tin khác:

Đại biểu dân cử với cử tri


    Liên kết web

    select

    Liên kết Website