Mode:         
Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

HĐND / Thông tin kỳ họp

Giám sát tình hình thực hiện cơ chế, chính sách đổi mới, phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã

Người đăng: dangtin Ngày đăng: 16:27 | 10/07 Lượt xem: 1076

Tại phiên họp khai mạc sáng ngày 10.7, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh báo cáo kết quả giám sát tình hình thực hiện cơ chế, chính sách về đổi mới, phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã (HTX) và hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã (Quỹ) trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2013 - 2018. Trang Thông tin điện tử HĐND tỉnh đăng tải toàn văn kết quả báo cao:

I. Thực trạng hoạt động các tổ hợp tác, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh

         Kinh tế hợp tác, HTX trọng tâm là phát triển đa dạng các hình thức hợp tác của nông dân nhằm góp phần liên kết sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã đưa kinh tế tập thể trở thành thành phần kinh tế quan trọng của địa phương. Đổi mới kinh tế hợp tác, HTX là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong giai đoạn hiện nay và sẽ góp phần rất lớn vào quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững.          Những năm qua, nhằm khuyến khích, thúc đẩy kinh tế tập thể phát triển, Trung ương và tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển HTX. Nhờ đó, kinh tế hợp tác, HTX của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, tăng nhanh về số lượng, chất lượng từng bước được nâng lên, góp phần trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

         Trên địa bàn Quảng Nam, giai đoạn 2013-2018, thành lập mới 115 THT và 135 HTX, giải thể 11 HTX[1], nâng số lượng THT, HTX toàn tỉnh tính đến ngày 31/12/2018 lên 2.417 THT, 329 HTX và 01 liên hiệp HTX. Cụ thể:

- Trong lĩnh vực Nông nghiệp có 243 HTX, chiếm tỷ lệ 73,8% (trong đó có 15 HTX ngừng hoạt động). Các HTXNN cơ bản đáp ứng các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, từng bước khắc phục một số mặt hạn chế của kinh tế hộ về vốn, nông cụ, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và tăng cường hỗ trợ nông dân hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh (chủ yếu giống lúa), tiêu biểu như: HTX Nông nghiệp Ái Nghĩa, HTX Đại Hiệp, HTX Đại Quang (huyện Đại Lộc); HTX Điện Phước 1, HTX Điện Ngọc 1, HTX Điện Hồng 2 (thị xã Điện Bàn); HTX Duy Hòa 2, HTX Duy Thành, HTX Duy Đại Sơn (huyện Duy Xuyên); HTX Hương An (huyện Quế Sơn); HTX Bình Đào (huyện Thăng Bình); HTX Thực phẩm sạch Phú Ninh (huyện Phú Ninh); HTX An Phú (huyện Núi Thành),...

- Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có 56 HTX, chiếm tỷ lệ 17,1%. Hầu hết HTX lĩnh vực này chú trọng việc ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm, tích cực tham gia các hội chợ thương mại trong và ngoài tỉnh kịp thời quảng bá, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, giải quyết đầu ra sản phẩm HTX, tiêu biểu như: HTX mây tre lá Âu Cơ (huyện Núi Thành), HTX Tiểu thủ công nghiệp Đại Hiệp (huyện Đại Lộc),...

         - Lĩnh vực vận tải có 11 HTX, chiếm tỷ lệ 3,3%. Hoạt động của các HTX chủ yếu tập trung hỗ trợ dịch vụ đăng ký bến bãi, thuế, bảo hiểm phương tiện, vận tải hành khách, góp phần đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và lưu thông hàng hoá, tiêu biểu như: HTX Vận tải và Kinh doanh tổng hợp Tam Kỳ, HTX Vận tải thủy bộ và khách du lịch Hội An, HTX Vận tải Duy Xuyên...

         - Lĩnh vực tín dụng gồm 03 Quỹ tín dụng nhân dân, chiếm tỷ lệ 0,9%. Các Quỹ tín dụng nhân dân thời gian qua đã tích cực, linh hoạt vận động phát triển thành viên, tăng vốn điều lệ và tăng nguồn vốn huy động tại chỗ, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh cho các hộ thành viên.

- Ngoài ra, có 16 HTX ở các lĩnh vực khác, chiếm tỷ lệ 4,9%, các HTX này có những đóng góp nhất định, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho thành viên và nhân dân trên địa bàn, tiêu biểu như: HTX Thương mại Điện Thọ và HTX Y tế An Phước...

Nhìn chung, kể từ khi Luật HTX năm 2012 có hiệu lực, cùng với tái cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp, các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác, HTX ra đời đã thúc đẩy kinh tế hợp tác của tỉnh có bước phát triển, nội dung phương thức hoạt động HTX từng bước được đổi mới, đa dạng về ngành nghề và quy mô tổ chức sản xuất kinh doanh. Liên kết giữa HTX với doanh nghiệp, hộ thành viên trong sản xuất, bao tiêu sản phẩm từng bước hình thành. Kinh tế hợp tác, HTX là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng nông thôn mới, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, nhất là ở lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Giá trị gia tăng (GRDP) khu vực HTX năm 2016 đạt 630 triệu đồng, góp phần tăng tỷ trọng GRDP toàn tỉnh từ 0,48% năm 2012 lên 0,847% năm 2016. Tổng doanh thu của HTX mỗi năm đạt bình quân trên 2,5 tỷ đồng, bảo đảm việc làm cho khoảng 227.997 thành viên và 1.645 lao động thường xuyên với mức thu nhập bình quân 36 - 42 triệu đồng/thành viên/năm.

Đa số các HTX sau khi chuyển đổi đã củng cố tổ chức bộ máy, thay đổi phương thức điều hành, xử lý có hiệu quả những vấn đề tồn đọng về nguồn vốn, tài sản và cổ phần thành viên. Phần lớn các HTXNN đã thực hiện khá tốt công tác quản lý kênh mương thủy lợi và dịch vụ thủy nông, cung ứng giống, vật tư nông nghiệp, tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh trên địa bàn. Thông qua hoạt động liên doanh, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, các HTX đã thể hiện được vai trò cầu nối, tạo điều kiện cho các thành viên, hộ nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập cho người lao động, tạo được niềm tin cho thành viên.

Phần lớn các HTX sau Luật HTX năm 2012 thành lập hoạt động tương đối có hiệu quả, nhất là các HTX do thanh niên thành lập với tinh thần khởi nghiệp có ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Đa số các HTX nhanh chóng tiếp cận các cơ chế, chính sách, tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị[2], chú trọng việc nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi liên kết giá trị, tích cực tham gia vào chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)[3]. Nhiều HTX thực hiện khá tốt công tác dồn điền, đổi thửa, hình thành chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả.

Mặc dù kinh tế hợp tác, HTX có những đóng góp nhất định vào tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Tuy nhiên, kinh tế hợp tác vẫn còn hạn chế, tỷ lệ HTX trung bình, yếu, hoạt động không hiệu quả vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn[4]. Nhiều HTX quy mô nhỏ, ít vốn, cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu; hoạt động dịch vụ còn đơn điệu, thiếu tổ chức các dịch vụ chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm đủ sức cạnh tranh thị trường. Một số HTX chậm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, lúng túng trong định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh; số HTXNN tham gia vào chuỗi giá trị gắn với các sản phẩm chủ lực của địa phương vẫn còn hạn chế, mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ yếu tập trung ở sản xuất giống lúa, đậu... thu nhập thành viên chưa được cải thiện đáng kể.

         II. Kết quả triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển HTX

         1. Tình hình triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách

         Công tác tuyên truyền, phổ biến cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, về phát triển kinh tế tập thể và chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới được tập trung triển khai. UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo,[5] các sở, ngành đã chủ động ký kết các chương trình phối hợp với các tổ chức đoàn thể, Mặt trận tuyên truyền vận động hội viên các cấp tham gia phát triển kinh tế tập thể và tiếp cận các cơ chế, chính sách, phát triển mô hình. Một số địa phương tổ chức thành lập Ban chỉ đạo củng cố và phát triển HTX, tổ công tác kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động của các HTX, hướng dẫn, củng cố, thành lập mới HTX; một số địa phương duy trì tổ chức giao ban, gặp gỡ, đối thoại, tọa đàm với các HTX để nắm bắt tình hình hoạt động và phổ biến các nội dung, cơ chế chính sách liên quan[6].

         2. Tác động của các cơ chế, chính sách đến quá trình đổi mới, phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã

a) Kết quả đạt được

Từ khi chuyển đổi nội dung hoạt động theo quy định của Luật HTX năm 2012, với sự nỗ lực của chính quyền các cấp, HTX đã tiếp cận các chính sách  hỗ trợ kinh tế tập thể, cơ chế đầu tư kết cấu hạ tầng khu vực nông nghiệp nông thôn[7]. Nhờ đó, đã tác động tích cực trong quá trình đầu tư, mở rộng, phát triển HTX.

 - Bằng nguồn vốn hỗ trợ hạ tầng từ cơ chế, chính sách của Trung ương, tỉnh[8] và vốn lồng ghép các chương trình, dự án, nhiều HTXNN đã đầu tư sân phơi, nhà kho, mua sắm máy cày, máy sấy, máy gặt đập liên hợp.., góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm (hạt giống), đẩy mạnh cơ giới hóa trong nông nghiệp, tạo thuận lợi HTX thực hiện công tác dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, liên doanh liên kết, giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, tạo được sự gắn kết giữa đầu tư cơ sở vật chất của HTX với quá trình xây dựng nông thôn mới.

- Nguồn nhân lực HTX ngày càng trẻ hóa, có trình độ và năng lực quản trị. Thông qua chính sách thu hút, đào tạo, đến nay đã có 18 người có trình độ cao đẳng, đại học về làm việc tại HTX, 113 cán bộ HTX được đào tạo đại học, cao đẳng, nâng số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên từ 235 người (năm 2013) lên 306 người (năm 2018), chiếm tỷ lệ 21,3% so với tổng số cán bộ quản lý HTX; số cán bộ quản lý HTX đạt trình độ sơ, trung cấp là 1028 người, tăng 421 người so với năm 2013, chiếm tỷ lệ 71,68%. Đồng thời, thông qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản trị, điều hành HTX cho các chức danh là thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Phó giám đốc, Ban kiểm soát và Kế toán trưởng,… đã giúp cho cán bộ HTX nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ trong công tác quản lý, điều hành và tuân thủ các quy định của pháp luật.

-  Nhu cầu về vốn của các THT, HTX từng bước được tháo gỡ, ngoài các nguồn kinh phí hỗ trợ từ chính sách đầu tư hạ tầng, thuế thu nhập, thành lập mới... nhiều HTX tiếp cận được nguồn vốn vay từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX.

  Qua đó cho thấy, mặc dù nguồn vốn hỗ trợ từ các cơ chế, chính sách mới chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới, phát triển THT, HTX. Song, hiệu ứng tích cực từ cơ chế, chính sách là trợ lực khá lớn, thúc đẩy kinh tế hợp tác phát triển, tình trạng yếu kém của khu vực kinh tế tập thể dần được khắc phục; kinh tế hợp tác, HTX từng bước khẳng định là nhân tố quan trọng góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị cơ sở, đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn. Từ hiệu quả hoạt động mô hình HTX kiểu mới, các HTX đã vươn lên, thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy cho thành viên, tham gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế hợp tác trong nền kinh tế.

b) Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh kết quả đạt được, một số cơ chế, chính sách vẫn còn những bất cập; công tác quản lý nhà nước đối với THT, HTX và hiệu quả hoạt động THT, HTX vẫn còn có một số vấn đề đáng quan tâm như sau:

b1) Về cơ chế, chính sách

Một số cơ chế ban hành chưa thật sự sát với yêu cầu thực tiễn nên hiệu quả mang lại chưa như mong muốn như: Chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; chính sách thuế, phí và lệ phí, chính sách khoa học - công nghệ và xúc tiến thương mại. Bên cạnh đó, một số chính sách quy định về điều kiện hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ còn hạn chế, trùng lắp, mức hỗ trợ còn hạn chế, hồ sơ thủ tục rườm rà nên số HTX thụ hưởng chính sách chưa nhiều, cụ thể như:  

- Chính sách thu hút: Thời gian qua, chính sách thu hút của tỉnh chỉ hỗ trợ cho HTX có thu hút người có trình độ đại học về đảm nhận chức danh chủ chốt nhưng thực tế hầu hết các sinh viên tốt nghiệp Đại học vào làm việc tại các HTX chưa có kinh nghiệm trong công tác quản lý, môi trường làm việc hoàn toàn mới, nhiều người chưa thể đảm nhiệm nhiệm vụ Giám đốc hoặc Phó Giám đốc HTX. Hơn nữa, hiện vẫn chưa có cơ chế liên thông trong quy hoạch, đề bạt bố trí vị trí cao hơn đối với cán bộ HTX hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mức hỗ trợ thu hút còn thấp.... nên việc thu hút người có trình độ đại học về làm việc tại HTX gặp nhiều khó khăn.

- Chính sách hỗ trợ hạ tầng: Có sự trùng lắp giữa chính sách Trung ương và tỉnh về đối tượng hỗ trợ nhưng mức hỗ trợ khác nhau, giao nhiều đầu mối tham mưu nên gây lúng túng trong triển khai thực hiện; mức hỗ trợ của tỉnh còn thấp, theo kiểu cào bằng, chưa xem xét quy mô hoạt động, loại hình HTX, số lượng thành viên; điều kiện thụ hưởng khó đáp ứng; hồ sơ, thủ tục thanh, quyết toán yêu cầu thực hiện theo quy trình dự án đầu tư gây khó khăn cho các HTX trong việc tiếp cận, thụ hưởng chính sách này.

  - Chính sách tín dụng: Các HTX  tiếp cận vốn vay từ tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn, các ngân hàng thương mại còn thận trọng cho HTX vay vốn. Trong khi đó, điều kiện được cấp vốn vay từ Quỹ Hỗ trợ Phát triển hợp tác xã gặp vướng mắc về cơ chế thế chấp và bảo lãnh tín dụng; các thành viên HTX còn dè dặt trong việc lấy tài sản cá nhân để thế chấp vay vốn cho HTX. Bên cạnh đó, hạn mức cho vay còn thấp, chủ yếu dựa vào giá trị tài sản thế chấp mà chưa xem xét tính khả thi phương án vay vốn và chưa có cơ chế cho HTX được vay vốn lưu động phục vụ sản xuất theo mùa vụ.

  - Chính sách hỗ trợ thuế thu nhập: Hồ sơ thủ tục còn rườm rà, yêu cầu có dự án đầu tư trong khi mức hỗ trợ không nhiều.

         - Chính sách hỗ trợ thành lập mới: Chỉ có chính sách hỗ trợ cho HTX nông nghiệp, chưa có cơ chế đối với HTX phi nông nghiệp, HTX do thanh niên khởi nghiệp...

         - Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng: Còn hạn chế về đối tượng, chưa bao quát,  chính sách chỉ đề cập đến đối tượng là cán bộ, thành viên HTX, trong khi đó, hầu hết cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể ở các sở, ngành, cấp huyện đều kiêm nhiệm chưa được bồi dưỡng thường xuyên nghiệp vụ, kiến thức về kinh tế hợp tác.

         - Về chính sách đất đai: Công tác hướng dẫn thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa kịp thời, nên nhiều HTX khó khăn về tiếp cận chính sách hỗ trợ hạ tầng. HTX nhận giao đất, thuê đất cũng gặp vướng mắc về thời hạn cho thuê, người nông dân chưa sẵn sàng ủng hộ chủ trương tích tụ ruộng đất, còn lo ngại khi giao đất sản xuất cho HTX quản lý khi chưa có quy định chính sách cam kết hỗ trợ và đảm bảo quyền lợi cho người dân.

b2) Công tác quản lý Nhà nước đối với THT, HTX

- Công tác tuyên truyền, học tập, quán triệt nghị quyết, Luật HTX năm 2012 và chính sách về phát triển HTX ở một số địa phương chưa được quan tâm toàn diện, đúng mức, nên nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về vị trí, vai trò HTX kiểu mới chưa đầy đủ.

- Quá trình thành lập, kiện toàn bộ máy và bố trí cán bộ quản lý nhà nước theo dõi về kinh tế tập thể, HTX còn những bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, việc phân công các phòng, ban theo dõi, quản lý nhà nước về HTX ở cấp huyện chưa rõ ràng[9], gây khó khăn quá trình theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động các HTX.  

- Ngân sách nhà nước hỗ trợ HTX thời gian qua chưa nhiều, chủ yếu từ nguồn ngân sách tỉnh theo Nghị quyết HĐND tỉnh[10], nhiều địa phương chưa tích cực lồng ghép nguồn vốn để hỗ trợ đầu tư hạ tầng HTX[11]; công tác hướng dẫn triển khai thực hiện cơ chế hỗ trợ đầu tư hạ tầng theo Quyết định 2261/QĐ-TTg còn chậm.

- Công tác chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, giám sát, hướng dẫn hoạt động HTX thiếu thường xuyên, hiệu quả chưa cao; việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc những vấn đề phát sinh chưa kịp thời. Việc xây dựng, nhân rộng các mô hình HTX tiên tiến, mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả chưa được chú trọng, việc giải thể hoặc chuyển đổi sang loại hình khác đối HTX yếu kém, ngừng hoạt động triển khai còn chậm.

- Công tác phân loại, đánh giá HTX thời gian qua còn bất cập, văn bản hướng dẫn phân loại và đánh giá HTX hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp chậm ban hành, nên chưa có cơ sở đánh giá, xếp loại hằng năm đối với HTX phi nông nghiệp. Việc phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan chuyên môn và địa phương, HTX thiếu chặt chẽ, dẫn đến việc đánh giá không đầy đủ, kịp thời[12], chưa phản ảnh thực chất hiệu quả hoạt động HTX, không xem xét bao quát quy mô hoạt động, thu nhập thành viên và lao động, điều kiện cơ sở hạ tầng[13], gây khó khăn trong việc xem xét khen thưởng HTX tiên tiến điển hình hoặc chấm dứt hoạt động đối với HTX yếu kém, ngừng hoạt động lâu ngày.

- Công tác tư vấn, hướng dẫn hoạt động HTX mặc dù có được quan tâm[14]; tuy nhiên, hồ sơ, quy trình thủ tục còn nhiều nên số HTX tiếp cận còn khó khăn. Bên cạnh đó, công tác thẩm định phương án, định hướng hoạt động THT, HTX khi thành lập mới chưa chặt chẽ, một số nơi thành lập mới THT, HTX có biểu hiện đối phó để đạt tiêu chí 13 trong Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, một số THT được thành lập chỉ trên giấy tờ, không có đóng góp vốn của các thành viên, một số THT thành lập để lấy thành tích do áp lực từ chấm thi đua của một số hội đoàn thể, một số THT thành lập xuất phát từ nhu cầu liên kết để làm hồ sơ vay vốn của một số hộ nông dân... Trong khi đó, việc theo dõi các THT, HTX sau khi thành lập chưa được quan tâm, dẫn đến một số THT, HTX hoạt động không hiệu quả, thậm chí có HTX gần như không hoạt động (Có 12/85 HTX thành lập theo tiêu chí 13 hoạt động cầm chừng, yếu kém). Tình trạng một số HTX nông, lâm, ngư nghiệp đăng ký kinh doanh nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau nhưng khi hoạt động HTX chủ yếu tổ chức sản xuất, kinh doanh các dịch vụ phi nông nghiệp nhằm mục đích hưởng cơ chế, chính sách ưu tiên cho HTX nông nghiệp vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ.

 - Công tác quản lý về sản xuất giống thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ nên nhiều HTX gặp khó khăn khi tham gia tạo chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa giống do vấp phải sự cạnh tranh không lành mạnh của một số Công ty, đơn vị.

- Công tác quản lý quỹ đất HTX chưa được chú trọng[15], nhiều HTX chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây khó khăn trong việc tiếp cận chính sách tín dụng, hỗ trợ đầu tư hạ tầng.

-  Công tác đào tạo, tập huấn cán bộ HTX được giao cho nhiều đầu mối thực hiện, tuy nhiên chưa có sự phối hợp tốt dẫn đến trùng lắp về thời gian, nội dung, đối tượng....

b3) Năng lực nội tại của THT, HTX

- Phần lớn các HTX trên địa bàn có quy mô nhỏ, thiếu cán bộ quản lý trẻ có trình độ năng lực, còn lúng túng trong việc định hướng, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.

- Một số HTX chưa thực hiện tốt công tác quản lý vốn, tài sản, quy chế quản lý tài chính. Có HTX chưa giải quyết dứt điểm công nợ, tồn tại 2 cổ phần xã viên[16]. Công tác báo cáo tình hình hoạt động của các HTX hằng năm với cơ quan đăng ký HTX và cơ quan quản lý ngành chưa thường xuyên, kịp thời, đầy đủ, gây khó khăn trong công tác quản lý, điều hành.

- Đa số các HTX NN vẫn còn hoạt động, sản xuất kinh doanh đơn điệu trên nền tảng những mối liên kết đã có, những dịch vụ truyền thống như: dịch vụ thủy nông, sản xuất lúa giống hàng hóa, dịch vụ vật tư nông nghiệp,… Việc liên doanh, liên kết thực hiện các khâu trong sản xuất - chế biến - bảo quản - tiêu thụ nông sản giữa HTX với hộ nông dân và các doanh nghiệp chưa được chú trọng đúng mức, hiệu quả còn hạn chế, lợi ích mang lại cho thành viên chưa cao, nên người nông dân, thành viên chưa thật sự gắn bó, mặn mà với HTX.

3. Đánh giá hiệu quả hoạt động Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX tỉnh

Tính đến ngày 31/12/2018, quy mô vốn Quỹ là 67,438 tỷ đồng (trong đó, vốn điều lệ ngân sách cấp ban đầu là: 15 tỷ đồng; vốn ngân sách cấp hàng năm (2013 – 2018): 51,386 tỷ đồng; vốn bổ sung từ các hoạt động Quỹ: 1,050 tỷ đồng). Tổng dư nợ gốc đến ngày 31/12/2018 là: 44,518 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2012 – 2018, Quỹ đã thực hiện hỗ trợ vốn cho 241 dự án (cho vay đầu tư: 207 dự án, hỗ trợ có hoàn lại vốn gốc: 34 dự án) với tổng số lượt tiền giải ngân là 96,335 tỷ đồng cho 176 đơn vị, trong đó có 54 HTX và 122 THT, chủ yếu tập trung ở lĩnh vực nông nghiệp (chiếm hơn 86% nguồn vốn cho vay của Quỹ).

Từ nguồn vốn cho vay, Quỹ đã góp phần tháo gỡ một phần khó khăn về vốn cho THT, HTX, giúp cho nhiều THT, HTX liên kết, mở rộng, đầu tư mới phát triển sản xuất kinh doanh một cách bền vững, nhiều mô hình liên kết sản xuất giữa HTX với doanh nghiệp ra đời đã góp phần đảm bảo ổn định lâu dài về đầu ra cho sản phẩm, giải quyết việc làm cho hơn 2.100 lao động thường xuyên (chiếm tỷ lệ 70%) và không thường xuyên (30%), cải thiện mức thu nhập cho người lao động tại các vùng nông thôn từ 2 triệu lên 3-4 triệu đồng/tháng. 

Việc quản lý, kiểm soát nguồn thu, nhiệm vụ chi của Quỹ thời gian qua được thực hiện chặt chẽ, theo đúng kế hoạch được phê duyệt. Nguồn vốn vay được thẩm tra, thẩm định tính hiệu quả của dự án. Đồng thời, tổ chức giám sát độc lập của Kiểm soát viên, giám sát của cơ quan điều hành, của Hội đồng quản lý Quỹ, của Liên minh HTX tỉnh về việc sử dụng nguồn vốn vay, tiến độ đầu tư dự án, giám sát các đơn vị chậm trả nợ gốc, nợ lãi vay. Nhờ đó, vốn vay được sử dụng đúng mục đích, trả nợ gốc, lãi vay cơ bản kịp thời, đúng hạn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động Quỹ thời gian qua còn những hạn chế nhất định. Quỹ chưa chú trọng các giải pháp huy động vốn, cho vay; số tiền tồn quỹ năm 2018 đến nay còn nhiều trong khi nhu cầu vay vốn của các HTX là khá lớn; nhiều các THT, HTX có nhu cầu sử dụng nguồn vốn lưu động ngắn hạn để chủ động hơn trong việc sản xuất kinh doanh nhưng Quỹ chưa kịp thời đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét cơ chế cho vay vốn lưu động; dự án cho vay của Quỹ phần lớn tập trung ở một số địa phương đồng bằng và các HTXNN. Công tác tư vấn, hỗ trợ HTX, THT xây dựng dự án, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh để tiếp cận nguồn vốn Quỹ chưa kịp thời, công tác tiếp nhận, thẩm định, xét duyệt hồ sơ vay vốn của các THT, HTX còn chậm, thủ tục qui trình cho vay còn rườm rà.

II. Nguyên nhân

1. Nguyên nhân khách quan:

- Nhận thức về kinh tế hợp tác và HTX của một số cán bộ, đảng viên và người dân có nơi, có thời điểm chưa đầy đủ. Lương và các chế độ lao động khác cho cán bộ HTX còn thấp, một số cán bộ trẻ ngại làm việc tại HTX. Do đó, các điều kiện đảm bảo thu hút cán bộ trẻ có trình độ Đại học về làm việc tại HTX gặp nhiều khó khăn.

- Cơ sở hạ tầng HTX đa số xuống cấp, lạc hậu, có HTXNN chưa có trụ sở làm việc ổn định, phải thuê hoặc mượn tạm nơi làm việc[17] nên khó thực hiện việc liên doanh liên kết, mở rộng sản xuất, không đảm bảo điều kiện tiếp cận chính sách hỗ trợ hạ tầng và các nguồn vốn ưu đãi, vốn vay  (do vướng cơ chế thế chấp và bảo lãnh trong việc vay vốn).

- Kinh phí hỗ trợ HTX chưa nhiều, bố trí phân tán rải rác nhiều chương trình[18], giao nhiều đầu mối cơ quan thực hiện[19], việc huy động vốn từ thành viên cũng gặp không ít khó khăn.

- Tốc độ tăng trưởng khu vực kinh tế hợp tác còn thấp so với các thành phần kinh tế khác, mức đóng góp GRDP khu vực kinh tế hợp tác chưa nhiều.

- Khung pháp lý và hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển HTX còn bất cập, nội dung một số cơ chế, chính sách còn chồng chéo, trùng lắp, thiếu đồng bộ, chưa thật sự sát với nhu cầu thực tế. Một số cơ chế chính sách ở Trung ương ban hành nhưng việc hướng dẫn triển khai và bố trí nguồn lực hỗ trợ chưa kịp thời.

2. Nguyên nhân chủ quan

- Một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự vào cuộc, thiếu quan tâm đến việc tuyên truyền phổ biến chính sách, chưa tích hợp và hướng dẫn đầy đủ tất cả các chính sách của tỉnh liên quan đến vấn đề hỗ trợ HTX, tổ HTX, chưa sâu sát trong công tác quản lý, hỗ trợ, tạo điều kiện về đất đai, cơ sở hạ tầng cho các HTX.

- Sự phối hợp của các cấp, các ngành trong công tác quản lý, kiểm tra, hướng dẫn, rà soát biến động, theo dõi tình hình hoạt động, phân loại đánh giá chất lượng hoạt động các HTX thiếu chặt chẽ, nhất là cấp huyện.

- Khả năng tổ chức sản xuất, kinh doanh của HTX còn hạn chế, đội ngũ cán bộ quản lý đa số lớn tuổi, hoạt động chủ yếu dựa theo kinh nghiệm, chưa nhạy bén và năng động trong tổ chức điều hành sản xuất - kinh doanh, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới của HTX, một bộ phận thành viên còn tư duy sản xuất nhỏ, ỷ lại, chưa tích cực huy động các nguồn lực nội tại tạo động lực phát triển, chậm thích ứng với cơ chế thị trường.

- Một số sáng lập viên thành lập mới HTX chưa nhận thức đầy đủ bản chất, các quy định, những ràng buộc của hoạt động HTX theo Luật. Mặt khác có tư tưởng thành lập HTX để thụ hưởng nhiều cơ chế, chính sách, kinh phí hỗ trợ của Nhà nước mà chưa chú trọng đến việc định hướng, tổ chức các hoạt động sản xuất - kinh doanh hiệu quả.

- Cơ chế khen thưởng đối với HTX chưa kịp thời, chưa nghiên cứu kỹ về đặc thù của HTX, đề ra những yêu cầu chưa phù hợp nên HTX gặp khó khăn trong việc làm hồ sơ, thủ tục khen thưởng.

III. Kiến nghị, đề xuất

Phát triển kinh tế tập thể là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, đồng thời, cũng là nhiệm vụ hết sức khó khăn, đòi hỏi phải kiên trì, có sự phối hợp của cả hệ thống chính trị. Vì vậy, nhằm tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy kinh tế hợp tác phát triển, phấn đấu thực hiện mục tiêu Quyết định 461/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đề ra[20], Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh kiến nghị:

1. Đối với HĐND tỉnh

- Tập trung chỉ đạo rà soát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh liên quan đến kinh tế hợp tác. Trên cơ sở đó, ban hành Nghị quyết mới theo phương thức tích hợp toàn bộ các chính sách liên quan của Trung ương và tỉnh về phát triển kinh tế hợp tác, HTX thay thế Nghị quyết 113/2008/NQ-HĐND và Nghị quyết số 124/2014/NQ-HĐND hết hiệu lực vào năm 2020; trong đó, lưu ý khắc phục bất cập các cơ chế, chính sách đã ban hành như:

         + Chính sách đào tạo: Nên mở rộng đối tượng hỗ trợ đào tạo là cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể (Ngoài đối tượng là thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Phó giám đốc, Ban kiểm soát và Kế toán trưởng).

         + Chính sách thu hút: Điều chỉnh đối tượng thụ hưởng theo hướng “thu hút người có trình độ đại học về làm việc tại HTX cam kết làm việc có thời hạn nhất định (không quy định ràng buộc phải về đảm nhận 01 trong 02 chức danh Giám đốc hoặc Phó Giám đốc). Đồng thời, cần bổ sung cơ chế liên thông quy hoạch, đề bạt bố trí ở vị trí công tác cao hơn đối với cán bộ HTX hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ những cán bộ quản lý lâu năm dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị.

+ Chính sách tài chính - tín dụng: Điều chỉnh thời gian, mức hỗ trợ, hồ sơ quy trình thủ tục đảm bảo thụ hưởng chính sách hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chỉ đạo sửa đổi phương thức hoạt động, quy chế, điều lệ, hình thức, thời hạn, điều kiện cho vay từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX (tín chấp hay thế chấp tài sản)... để giải quyết nhu cầu khó khăn về vốn sản xuất cho các HTX.

+ Chính sách đất đai: Nghiên cứu cơ chế tạo thuận lợi cho HTX được bố trí quỹ đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được giao đất, cho thuê đất để xây dựng trụ sở làm việc; có chính sách bảo đảm quyền lợi cho nông dân khi cho HTX thuê đất và phương án hỗ trợ các HTX chi phí trả tiền thuê đất cho nông dân để tạo điều kiện cho HTX tích tụ ruộng đất, hình thành các vùng chuyên canh, đẩy nhanh tiến độ cơ giới hóa trong nông nghiệp, hạn chế tình trạng bỏ đất hoang hóa.

+ Chính sách về hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật: Điều chỉnh mức hỗ trợ phù hợp với từng loại hình, quy mô HTX. Xem xét sửa đổi, bổ sung điều kiện thụ hưởng chính sách để tạo điều kiện HTX tiếp cận chính sách. Trong đó, lưu ý giảm quy mô diện tích đất, diện tích tưới nước trong quy định điều kiện để được hỗ trợ đầu tư hạ tầng giao thông và thủy lợi đối với HTX hoạt động ở các huyện miền núi.

+ Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ cho HTX phi nông nghiệp, HTXNN do thanh niên khởi nghiệp, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo động lực cho HTX phát triển bền vững.

 - Chỉ đạo Tổ đại biểu HĐND tỉnh, HĐND cấp huyện, cấp xã tăng cường giám tình hình hoạt động kinh tế hợp tác, triển khai thực hiện các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về HTX, hoạt động HTX, kịp thời đề xuất điều chỉnh những cơ chế, chính sách không phù hợp với thực tiễn.

- Quan tâm bố trí kinh phí hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác, HTX trong phân bổ dự toán hằng năm.

2. Đối với UBND tỉnh

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế hợp tác, HTX. Chỉ đạo chính quyền các cấp phối hợp chặt chẽ với Mặt trận, đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của HTX trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đưa nội dung về kinh tế hợp tác, HTX vào Nghị quyết nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm đảm bảo thống nhất trong chỉ đạo điều hành.

- Chỉ đạo rà soát, tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện cơ chế, chính sách đã ban hành thời gian qua, nhất là các cơ chế chưa thực sự sát nhu cầu thực tế các HTX. Trên cơ sở đó, tham mưu HĐND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách mới dựa trên sự tích hợp các cơ chế chính sách của Trung ương, tỉnh để tạo thuận lợi cho các HTX phát triển, nhất là chính sách tín dụng, tích tụ đất đai, thu hút nguồn nhân lực, hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật; trong đó cần xem xét đến tính chất vùng miền, quy mô HTX.

- Tiếp tục theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tình hình thực hiện các quy định pháp luật, cơ chế chính sách liên quan lĩnh vực kinh tế hợp tác, HTX. Đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập trong các quy định pháp luật và cơ chế, chính sách chưa phù hợp như: mở rộng đối tượng, phạm vi, điều kiện thụ hưởng, đơn giản hóa, hồ sơ quy trình thủ tục để tạo thuận lợi cho các HTX tiếp cận chính sách hỗ trợ hạ tầng, tín dụng, thu hút nguồn nhân lực, đất đai.

- Kiên quyết chỉ đạo xử lý, chuyển đổi, giải thể các HTX yếu kém, nhất là các HTX thành lập theo tiêu chí 13 của Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới nhưng hoạt động kém hiệu quả hoặc dừng hoạt động lâu ngày.

- Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn để tạo nguồn lực, đòn bẩy phát triển HTXNN như: cơ chế tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa, quy hoạch vùng sản xuất tập trung quy mô lớn; chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ; sớm triển khai, cụ thể hóa Nghị định 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

- Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan sớm ban hành văn bản hướng dẫn phân loại và đánh giá HTX hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp để có cơ sở đánh giá, xếp loại HTX hằng năm.

- Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT nghiên cứu ban hành văn bản quy định tiêu chí xác định HTX thuộc lĩnh vực nông nghiệp để tránh trạng lạm dụng hưởng cơ chế, chính sách ưu tiên cho HTX nông nghiệp.

- Chỉ đạo các sở, ngành:

+ Tăng cường phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, năng lực quản lý điều hành cho đội ngũ cán bộ HTX và nâng cao kiến thức, nghiệp vụ về công tác quản lý nhà nước về kinh tế hợp tác, HTX cho đội ngũ cán bộ, quản lý nhà nước ở các cấp, các ngành, các địa phương.

+ Phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong việc đánh giá, rà soát phân loại chất lượng HTX, theo dõi, hướng dẫn, hoạt động HTX, kiểm tra việc chấp hành các chế độ tài chính của các HTX.

- Chỉ đạo Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX tỉnh tổ chức tổng kết, đánh giá hiệu quả hoạt động, tăng cường giải pháp phát huy nguồn vốn, cho vay, nghiên cứu trình cấp có thẩm quyền sửa đổi quy chế, điều lệ cho vay, hình thức cho vay (vốn lưu động), điều kiện vay phù hợp.

- Chỉ đạo các địa phương lồng ghép các nguồn vốn để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ HTX, hỗ trợ HTX xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của địa phương, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm HTX...

3. Đối với các địa phương

- Tăng cường sự lãnh đạo của các ủy Đảng, chính quyền, phát huy vai trò Mặt trận, đoàn thể nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về vai trò kinh tế hợp tác. Nắm vững, vận dụng và triển khai có hiệu quả cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển HTX. Thường xuyên tổng kết đánh giá và nhân rộng mô hình các HTX điển hình tiên tiến gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, tái cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp.

 

- Phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan trong việc hướng dẫn, kiểm tra việc chấp hành công tác quản lý tài chính, đánh giá phân loại HTX, tư vấn, hỗ trợ HTX tiếp cận cơ chế, chính sách, phát triển HTX. Kịp thời giải thể, chuyển đổi mô hình đối với những HTX hoạt động yếu kém, ngừng hoạt động lâu ngày, xử lý dứt điểm tồn đọng HTX kiểu cũ, tăng cường hướng dẫn, định hướng hoạt động các HTX.
 

Tăng cường việc phối hợp giữa các các phòng ban chuyên môn trong công tác quản lý nhà nước về hợp tác, phân công, bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm theo dõi lĩnh vực kinh tế hợp tác HTX theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV ngày 25/3/2015 của Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Nội vụ, Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 11/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Kế hoạch và Đầu tư thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát, theo dõi, nắm bắt nhu cầu, phối hợp giải quyết kịp thời các đề xuất, kiến nghị chính đáng của các HTX cũng như hướng dẫn,  giải quyết hồ sơ thủ tục, tạo điều kiện cho các HTX tiếp cận về đất đai, hạ tầng, kỹ thuật, tín dụng và các nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước...

- Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo thông tin số liệu về HTX và kịp thời phản ánh những bất cập vướng mắc tạo thuận lợi trong công tác quản lý, điều hành họat động kinh tế hợp tác.

- Tăng cường lồng ghép nguồn vốn thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp, kinh tế vườn, kinh tế trang trại, chương trình mỗi xã một sản phẩm ...để hỗ trợ, phát triển HTX. Tạo điều kiện  cho các HTX có năng lực, đủ điều kiện tham gia thực hiện các dự án, đề án tổ chức sản xuất trong chương trình xây dựng NTM. Tăng cường quảng bá, xúc tiến, tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm HTX, xây dựng mô hình HTX kiểu mới gắn với chuỗi giá trị, đẩy mạnh liên doanh, liên kết giữa HTX với HTX và giữa HTX với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhằm huy động mọi nguồn lực tập trung cho phát triển kinh tế hợp tác.

4. Đối với HTX

- Tiếp tục kiện toàn, xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực kế cận, tích cực tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ HTX.

- Thực hiện nghiêm điều lệ HTX, đại hội thành viên, quy chế quản lý vốn, tài sản HTX, lưu ý tập trung xử lý triệt để tồn đọng HTX kiểu cũ, đặc biệt thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo, xem đây là tiêu chí đánh giá phân loại và điều kiện để được thụ hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước.

- Tăng cường giải pháp tiếp cận cơ chế chính sách, tìm kiếm thị trường, mở rộng liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm HTX, chú trọng việc xây dựng sản phẩm có thương hiệu, đặc trưng thế mạnh của địa phương để tham gia thực hiện chương trình OCOP.

- Chú trọng xây dựng phương án kinh doanh phù hợp, có tính khả thi để thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX.

- Phối hợp với địa phương triển khai công tác phân vùng sản xuất, đầu tư sản xuất theo hướng thâm canh, chuyên canh cao, thực hiện tốt dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng lớn, sắp xếp, bố trí đất sản xuất cho các thành viên.

- Các HTXNN thực hiện nghiêm túc việc tự phân loại, đánh giá, xếp loại hằng năm và báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp huyện, tỉnh theo quy định tại Thông tư số 09/2017/TT-BNNPTNT ngày 17/4/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 

Ảnh: Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh tổ chức hội nghị lấy ý kiến về cơ chế chính sách phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã.



[1] Trong đó, số HTX cũ chuyển đổi, đăng ký lại là 166/171 HTX, chiếm tỷ lệ 97,07%, có 05 HTX chưa chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX 2012)

[2] Cuối năm 2018, toàn tỉnh có 24 HTXNN có ứng dụng công nghệ cao, tỷ lệ 9,6%; Tiêu biểu như HTX Nông nghiệp Ái Nghĩa, HTX Đại Hiệp, HTX Đại Quang (Đại Lộc); HTX NN 1 Điện Phước, HTX Điện Ngọc 1, HTX Điện Hồng 2 (Điện Bàn); HTX Duy Hòa 2, HTX Duy Thành, HTX Duy Đại Sơn (Duy Xuyên); HTX Hương An (Quế Sơn); HTX Bình Đào (Thăng Bình); HTX Thực phẩm sạch Phú Ninh (Phú Ninh); HTX Phú Đông, HTX An Phú (Núi Thành).

[3] Toàn tỉnh có 38 chủ thể tham gia, trong đó có 16 HTXNN và 01 THT. HTXNN tham gia phương án thí điểm chiếm tỷ lệ cao (48,5%) trong tổng số chủ thể tham gia, trong 4 sản phẩm được công nhận 04 sao có 04 sản phẩm của 03 HTX (tinh dầu quế, tinh dầu sả của HTX Nông dược xanh Tiên Phước; rượu Lòn bon Tiên Phước của HTX Dịch vụ NN KDTH Nhật Linh - huyện Tiên Phước, Bánh tráng Đại Lộc của HTXNN Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc); 14 sản phẩm được công nhận 03 sao có 03 sản phẩm của 03 HTXNN (dầu phụng nguyên chất đất Quảng của HTX Nông nghiệp Điện Quang - Thị xã Điện Bàn; Túi A Đhir của HTX dệt thổ cẩm Cơ tu - Zara - huyện Nam Giang; Dầu đậu phộng nguyên chất Bảo Tâm của HTX sản xuất dầu thực vật nguyên chất Bảo Tâm - Thành phố Tam Kỳ; Chè dây Razéh của HTXNN Xã Tư, huyện Đông Giang; Bưởi trụ Đại Bình của HTXNN du lịch dịch vụ Đại Bình, huyện Nông Sơn; Rau cải bó xôi của HTXNN Công nghệ cao Trường Thành, huyện Phú Ninh).

[4] Có 139 HTX tốt, khá, tỷ lệ 40,88%; 98 HTX trung bình, tỷ lệ 28,82%; 17 HTX yếu, tỷ lệ 6,55%.

[5] 10 Quyết định, 1 Chỉ thị, 1 kế hoạch

[6] Đại Lộc

[7] Chương trình xây dựng nông thôn mới, kiên cố hóa kênh mương, thủy lợi hóa đất màu, bê tông hóa giao thông nông thôn...

[8] Trong giai đoạn 2013-2018, tỉnh bố trí  9.523 triệu đồng để hỗ trợ kết cấu hạ tầng cho 48 HTX nông nghiệp (ngoài ra ngân sách Trung ương bố trí 1 tỷ đồng để hỗ trợ kết cấu hạ tầng).

[9] Sở Kế hoạch và Đầu tư phân công 01 cán bộ theo dõi công tác quản lý kinh tế tập thể và HTX, trong khi đó theo quy định tại  Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BKHĐT-BNV quy định Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về kinh tế tập thể, hợp tác xã, kinh tế tư nhân và cơ cấu tổ chức có phòng Doanh nghiệp, kinh tế tập thể và tư nhân.

Ở huyện: Đề án vị trí việc làm của cấp huyện không bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm ở phòng Nông nghiệp và Phát triển nông (Phòng Kinh tế) để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về HTXNN theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV ngày 25/3/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Nội vụ.

[10]Theo báo cáo 111/BC –LMHTX  tỉnh: Tổng kinh phí hỗ trợ theo Nghị quyết 113/2008/NQ-HĐND ngày 30/7/2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh là: 4.191.029.000 đồng, Tổng kinh phí thực hiện Nghị quyết 124/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh là: 14.668.720.000 đồng

- Theo BC 283/BC-SKHĐ của Sở KHDT: Giai đoạn 2013-2018, ngân sách tỉnh bố trí tổng cộng: 20.310,529 triệu đồng, trong đó: 1.430 triệu đồng thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng (gồm 880 triệu để hỗ trợ học đại học cho cán bộ HTX và 550 triệu đồng hỗ trợ tập huấn, ngân sách Trung ương hỗ trợ tập huấn 1.174 triệu đồng); 1.729 triệu đồng thực hiện chính sách thu hút, 120 triệu đồng thực hiện chính sách tiếp cận vốn vay Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX, 1.670,25 triệu thực hiện chính sách hỗ trợ ứng dụng cho 35 HTX, 4,279 triệu đồng để thực hiện chính sách thương mại, mở rộng thị trường;9.523 triệu đồng để hỗ trợ hạ tầng cho 48 HTX nông nghiệp (ngoài ra ngân sách Trung ương bố trí 1 tỷ đồng hỗ trợ kết cấu hạ tầng); 555 triệu đồng từ chương trình MTQG NTM thực hiện triển khai thí điểm mô hình đưa cán bộ đại học, cao đẳng về làm việc có thời hạn tại HTXNN; 1.350 triệu đồng hỗ trợ thành lập mới; 2.601 triệu đồng thực hiện chính sách hỗ trợ thuế TNDN; 1.328 triệu đồng hỗ trợ đội ngũ quản lý chủ chốt.

[11] Từ năm 2013-2018: Các địa phương chưa phân bổ kinh phí để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho HTX từ nguồn vốn chương trình MTQGNTM, mới phân bổ kinh phí từ nguồn vốn CTMT tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư năm 2018 với số tiền 1 tỷ đồng)

không bố trí kinh phí để đầu tư cơ sở hạ tầng cho các HTX từ nguồn vốn chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

[12] Có đến 86/329 HTX không xếp loại

[13] Có HTX hiện nay vẫn chưa giải quyết tồn đọng cổ phần xã viên, thu nhập bình quân cán bộ HTX chỉ có 2tr đồng/tháng nhưng vẫn được xếp loại khá

[14] Liên minh HTX có hình thành Trung tâm tư vấn hỗ trợ kinh tế HTX, ban hành các văn bản hướng dẫn quy trình thủ tục, hồ sơ để thụ hưởng các chính sách tại Hướng dẫn 172/HD-LMHTX, ban hành danh mục, biểu mẫu, nội dung, hồ sơ vay vốn Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX tỉnh tại Quyết định số 05/QĐ-QHT.

[15] Hiện nay tỉnh không nắm được số lượng các HTX đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

[16] HTX Tam Thành , Phú Ninh

[17] HTXNN Đại An, Đại Thạnh

[18] Chương trình MTQG Nông thôn mới, chương trình tái cơ cấu nền nông nghiệp; hỗ trợ hạ tầng theo QĐ 2261

[19] Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch Đầu tư, Liên minh HTX tỉnh

[20] Theo  Kế hoạch 2548/KH-UBND ngày 09/5/2019 của UBND tỉnh triển khai QĐ 461/QĐ-TTg: Phấn đấu giai đoạn 2019-2020 có 200 HTXNN hoạt động hiệu quả; xử lý dứt điểm việc giải thể, chuyển đổi HTXNN yếu kém, ngừng hoạt động lâu ngày; đến năm 2020 có 13%HTX ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển mới 84 HTXNN, trong đó 40 HTX tham gia chương trình OCOP

[Trở về]

Các tin mới:

Các tin khác:





 Giấy mời họp
 Lịch công tác Đoàn ĐBQH và HĐND
 Lịch công tác UBND tỉnh
 Hồ sơ công việc Q.Office (phiên bản cũ)
 Nghị quyết HĐND tỉnh
 Hộp thư nội bộ
 Truyền hình đại biểu dân cử với cử tri
   Điểm tin trong ngày

 
 
 
 
 

Dự báo thời tiết

Tam Kỳ
Thứ năm, 22/08/2019
Mây thay đổi, trời hửng nắng
Nhiệt độ:32°
Độ ẩm: 67%
Hướng gió:Đông
Tốc độ gió:11 kmph
Tầm nhìn xa: 10 km

Thứ sáu
23/08/2019
Mây thay đổi, trời hửng nắng
26°-35°
Thứ bảy
24/08/2019
Mưa giông rải rác
26°-32°

BẢN QUYỀN VĂN PHÒNG HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Địa chỉ: 62 Hùng Vương - TP Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852731 - Email: vphdnd@quangnam.gov.vn
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)