Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Phiên bản di động Phiên bản đầy đủ

Tin tức / Văn hóa – đời sống

A+ | A | A-

Định hướng phát triển ngành nông nghiệp giai đoạn mới

Người đăng: banbientap Ngày đăng: 16:43 | 19/03 Lượt xem: 226

Kết luận số 53-KL/TW ngày 05.8.2009 của Bộ chính trị và Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 23.12.2009 của chính phủ về Đề án “An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020” đã khẳng định An ninh lương thực (ANLT) là vấn đề trọng đại của đất nước trước mắt cũng như lâu dài. Sau 10 năm triển khai thực hiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng đã đạt được kết quả khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, nhất là vấn đề về ANLT, giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh tăng dần qua các năm và luôn đạt ở mức cao, từ 8.898 tỷ đồng năm 2009 lên 13.746 tỷ đồng năm 2019 (giá so sánh 2010), tăng hơn 1,54 lần, góp phần thực hiện đảm bảo mục tiêu về an ninh lương thực, tăng thu nhập cho người nông dân.

Thành tựu sau 10 năm

Thực hiện Kế hoạch hành động tái cơ cấu ngành của tỉnh, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Ngành nông nghiệp đã tham mưu lập, thực hiện nhiều đề án, quy hoạch sản xuất theo định hướng cơ cấu lại trên cơ sở phát huy lợi thế địa phương và nhu cầu thị trường. Đến nay đã lập mới 07 quy hoạch ngành, lĩnh vực có ưu thế như lâm nghiệp, dược liệu, thủy sản, chăn nuôi..., rà soát và gắn quy hoạch nông thôn mới, cùng các cơ chế chính sách ban hành, Quảng Nam đã thực hiện các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tổ chức lại sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, cơ giới hoá vào sản xuất...

Đối với cây lương thực tập trung là cây lúa, Quảng Nam có diện tích lúa gieo trồng hằng năm khoảng 86.000 ha (sản xuất 02 vụ, trong đó có hơn 4.000 ha sản xuất giống tập trung), với sản lượng hàng năm 450.000- 460.000 tấn, đảm bảo đáp ứng nhu cầu lương thực cho gần 1,5 triệu dân trên địa bàn tỉnh. Tuy cây lúa chưa có chủ trương quy hoạch thành vùng trồng, song việc định hướng duy trì đảm bảo sản xuất ổn định diện tích gieo trồng lúa nước là 75.000 ha/năm, phần diện tích sản xuất hiệu quả thấp đã chuyển sang trồng rau màu hoặc chuyển đổi mục đích để nâng cao hiệu quả sản xuất…

Về phát triển cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ, đến nay cơ bản hoàn thiện hệ thống thủy lợi cho đất lúa và rau màu, phục vụ nuôi trồng thủy sản. Diện tích tưới chủ động bằng các biện pháp công trình thủy lợi là 78.580 ha; trong đó: lúa 73.962 ha (chiếm 86%), màu: 4.418 ha và NTTS: 200ha. Giao thông nội đồng tiếp tục được hoàn thiện. Ngoài ra, tỉnh đã chú trọng đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật như chương trình IPM, ICM, SRI, tưới tiết kiệm, ứng dụng chế phẩm sinh học, sản xuất theo tiêu chuẩn GAP… đã được chuyển giao đến nông dân và áp dụng rộng rãi vào sản xuất với quy mô áp dụng ngày càng lớn. Ứng dụng máy móc vào các khâu sản xuất, đặc biệt là ở khâu làm đất và thu hoạch nâng tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất từ 63% lên trên 75% diện tích; khâu thu hoạch lúa cơ giới lên trên 80% diện tích, tăng hơn 2 lần so năm 2009.

Hiện trên địa bàn tỉnh đã có 10 cơ sở được cấp Giấy chứng nhận sản phẩm sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP; có 01 cơ sở giết mổ lợn và 05 cơ sở chế biến nông sản được chứng nhận theo tiêu chuẩn HACCP. Các cơ sở sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, HACCP đã nâng cấp được điều kiện về cơ sở vật chất, cải tiến quy trình sản xuất và tuân thủ các quy định về ATTP, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.

Đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn TOT cấp tỉnh về phương pháp, nghiệp vụ khuyến nông và kỹ thuật chuyên ngành cho nông dân, cán bộ khuyến nông các cấp. Trong 9 năm (2010-2018) tổng số lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề nông nghiệp là 24.079 người; trong đó lao động nữ là 4.820 người (chiếm 20%). Nhìn chung, công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trong những năm qua đã đạt được những kết quả tích cực, trong đó tỷ lệ lao động có việc làm sau khi học nghề giai đoạn 2011-2015 trên 70% KH, dự kiến giai đoạn 2016-2020 đạt trên 80%KH, đa số lao động sau khi học nghề có việc làm ổn định, chủ yếu là tự tạo việc làm là chính hoặc vẫn làm nghề cũ nhưng mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh và đem lại thu nhập cao hơn.

Đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, đến cuối năm 2019, toàn tỉnh có 286 HTXNN, tăng 148 HTX so với năm 2009. Toàn tỉnh hiện có 178 trang trại chăn nuôi, tăng 13 trang trại so với cùng kỳ năm trước. Có 05 cơ sở chăn nuôi được công nhận phù hợp với quy trình thực hành chăn nuôi tốt tại Việt Nam (VietGHAP), gồm: 04 cơ sở chăn nuôi lợn và 01 cơ sở chăn nuôi gà.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế cho thấy, mặc dù ngành nông nghiệp của tỉnh có nhiều chuyển biến đáng kể, chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có nhiều tiến bộ nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún; việc thu hút đầu tư vào sản xuất nông nghiệp còn thấp, có ít doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩn vẫn còn là mối lo của người tiêu dùng. Hoạt động liên kết sản xuất của người dân thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác còn hạn chế. Việc tiêu thụ nông sản phần lớn thông qua các tiểu thương thu gom sản phẩm, tổ chức tiêu thụ thông qua hợp đồng còn ít, người sản xuất chưa chủ động về giá cả và đầu ra của sản phẩm. Mặt khác, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp chưa thực sự thu hút được các hộ, các doanh nghiệp đầu tư, nhất là lĩnh vực chế biến nông sản, giết mổ gia súc, gia cầm; đầu ra sản phẩm nông nghiệp (chế biến, tiêu thụ sản phẩm) còn thiếu tính bền vững.

Đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hóa

Xác định cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và lâu dài nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh trên cơ sở cơ cấu lại nội bộ ngành, cơ cấu lại lao động, áp dụng khoa học công nghệ với kết cấu hạ tầng đồng bộ; sản xuất gắn với tiêu thụ, trên cơ sở phát huy vai trò của kinh tế hợp tác, liên kết đa dạng. Mục tiêu của Quảng Nam giai đoạn 2020 – 2025, định hướng 2030 phải chú trọng nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lúa gạo, đảm bảo đủ sản lượng lương thực phục vụ cho nhân dân trong tỉnh, ổn định diện tích gieo trồng lúa nước 75.000ha/năm, trong đó duy trì phát triển 4.000 - 4.500 ha sản xuất giống lúa, trên 10.000 ha lúa chất lượng cao. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, như chuyển đổi khoảng 10.000 ha gieo trồng lúa hiệu quả thấp. Mở rộng diện tích sản xuất cây dược liệu, nhất là những loài dược liệu đặc trưng, bản địa. Từng bước đưa công nghệ cao vào sản xuất; sản xuất theo hướng an toàn thực phẩm, sản xuất nông nghiệp hữu cơ; xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại tạo điều kiện phát triển toàn diện trong các lĩnh vực nông, lâm, thủy sản gắn với ứng dụng khoa học kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Phát triển sản xuất rau sạch tại các khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An, Núi Thành và một số nơi ở vùng Đông Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Phú Ninh, phát triển nghề trồng hoa và sinh vật cảnh. Đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp để có nhiều sản phẩm thương mại như cây thực phẩm (rau, củ quả), cây ăn quả. Phát triển chăn nuôi trang trại tại các huyện trung du, miền núi gắn với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp với công nghệ tiên tiến, an toàn dịch bệnh gắn với vệ sinh an toàn thực phẩm. Chăn nuôi phải gắn liền với các chuỗi liên kết chế biến, tiêu thụ. Phấn đấu đưa tỷ trọng chăn nuôi chiếm 35% cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp. Đẩy mạnh liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ, sản xuất an toàn. Đến năm 2025, phấn đấu tỷ lệ giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản được sản xuất theo các quy trình sản xuất tốt (GAP) hoặc tương đương đến năm 2025 đạt trên 10% và sản xuất dưới hình thức liên kết đạt trên 20%.

Để đạt được mục tiêu như vậy, Quảng Nam cần phải có nhiều giải pháp căn cơ, đồng bộ, ban hành chính sách thông thoáng, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan. Tập trung chuyển mạnh nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá, tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đào tạo, thu hút nguồn nhân lực, tạo bước đột phá để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thông qua các chương trình đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, các lớp tập huấn, mô hình sản xuất mới.

Xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng đảm bảo chủ động tưới, tiêu trên diện tích đất lúa sản xuất ổn định; chú trọng đầu tư phát triển các công trình thủy lợi, giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, cơ sở chế biến nông sản gắn liền với quy hoạch, phát triển nông thôn.

Một nhiệm vụ cũng khá quan trọng đó là tăng cường mối liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, xây dựng các mô hình liên minh sản xuất, khuyến nông về tổ chức sản xuất gắn với chất lượng, quy mô số lượng, liên kết chế biến, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Tác giả: P. Thuận

[Trở về]

Các tin mới:

Các tin khác:

TÀI LIỆU KỲ HỌP



TÀI LIỆU PHIÊN HỌP TT HĐND

Đại biểu dân cử với cử tri


    Liên kết Website