Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Phiên bản di động Phiên bản đầy đủ

TÀI LIỆU KỲ HỌP



TÀI LIỆU PHIÊN HỌP TT HĐND

Tin tức / Thông tin Kinh tế – Xã hội

A+ | A | A-

Tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Quảng Nam

Người đăng: banbientap Ngày đăng: 20:47 | 17/10 Lượt xem: 526

Tỉnh Quảng Nam có 9 huyện miền núi, chiếm khoảng 70% diện tích của toàn tỉnh. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBTTS) và miền núi của tỉnh Quảng Nam chiếm khoảng 22% dân số của tỉnh, thành phần dân tộc đa dạng. Ở miền núi phía Tây, vùng Nam Trường Sơn là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme. Dân tộc Cơtu có 37.310 người, chiếm 2,71%; dân tộc Xơ Đăng có 30.231 người, chiếm 2,2%, dân tộc Giẻ - Triêng có 4.546 người, chiếm 0,33%, dân tộc Cor có 4.607 người, chiếm 0,33%. Các tộc người này chính là lớp cư dân bản địa tại miền núi Quảng Nam, trải qua bề dày lịch sử, họ đã có nhiều đóng góp hết sức to lớn trong xây dựng, bảo vệ, phát triển vùng đất Nam Trường Sơn và các dân tộc khác di cư từ nơi khác đến.

Nhận thấy được tầm quan trọng về vị trí chiến lược của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Quảng Nam, cần thiết phải đầu tư hơn nữa cho sự phát triển kinh tế- xã hội của vùng này. Ngày 19/4/2017, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND về phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025 nhằm hướng đến mục tiêu: tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của miền núi và huy động tối đa các nguồn lực để phát triển bền vững kinh tế - xã hội; tăng cường cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân miền núi. Đầu tư kết cấu hạ tầng; ưu tiên bố trí, sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển sản xuất gắn với quy hoạch, xây dựng nông thôn mới. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng hàng hóa. Thực hiện tốt công tác giảm nghèo bền vững, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trên tinh thần đó, tỉnh Quảng Nam, đã tập trung nguồn vốn đầu tư khá cao cho khu vực miền núi từ các chương trình, dự án và các cơ chế, chính sách 9.350.314 triệu đồng (từ 2016-2020), chiếm khoảng 36,59% tổng số vốn đầu tư của toàn tỉnh. Sau 05 năm triển khai, dưới sự nổ lực, tập trung huy động mọi nguồn lực đầu tư, kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Quảng Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực:

Về giảm nghèo bền vững, tỉnh đã chỉ đạo tổ chức triển khai kịp thời, hiệu quả các chương trình chính sách giảm nghèo bền vững của quốc gia và chính sách hỗ trợ giảm nghèo, khuyến khích thoát nghèo bền vững theo cơ chế của tỉnh với nguồn vốn 1.616.237 triệu đồng, chính sách thoát nghèo bền vững của tỉnh với kinh phí 192.994 triệu đồng để hỗ trợ cho 8.566 hộ nghèo và 4.860 hộ cận nghèo (2017-2020). Vì vậy, đời sống của người dân nói chung, của người nghèo, cận nghèo khu vực miền núi, vùng DTTS đã được cải thiện rõ rệt; hầu hết các xã nghèo đặc biệt khó khăn đều có đường giao thông đến trung tâm xã (100% xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã), có điện phát sáng và phục vụ sản xuất kinh doanh…, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi diện mạo đời sống xã hội của người dân nơi đây, từng bước cải thiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đến năm 2020, số hộ nghèo còn 15.357 hộ, tỉ lệ 18.09% (giảm 22.76% so với năm 2015), bình quân mỗi năm giảm 4.55%

Về  giáo dục, y tế,  quy mô mạng lưới trường lớp được quy hoạch, sắp xếp và tiếp tục đầu tư phát triển từ mầm non đến THPT; trường PT dân tộc nội trú, bán trú được phát triển trên địa bàn nhiều đồng bào DTTS sinh sống; thực hiện các chính sách hỗ trợ cho học sinh và các trường PT dân tộc nội trú kịp thời, hiệu quả; cơ sở vật chất phục vụ dạy và học được đảm bảo; mạng lưới y tế vùng ĐBDTTS và miền núi được mở rộng, ngày càng hoàn thiện. Cơ sở vật chất, trình độ y bác sĩ  được nâng lên rõ rệt, cơ sở khám chữa bệnh được cải thiện về quy mô, chất lượng; các trạm y tế được đầu tư kiên cố, cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc, khám chữa bệnh cho người dân; tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giảm dần theo từng năm.

Công tác giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động đạt những kết quả đáng khích lệ. Từ 2016 - 2020, khu vực miền núi có 18.938 lao động có việc làm tăng thêm, nhiều lao động ở các đại phương khu vực miền núi được học nghề, chuyển đổi việc làm, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực; một bộ phận lao động miền núi được hỗ trợ vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội tổ chức sản xuất, giải quyết lao động cho bản thân và người khác, góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển mạnh như: nghề dệt thổ cẩm, mộc mỹ nghệ, dân dụng…góp phần giải quyết lao động tại khu vực miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số có thêm thu nhập; bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh, hiện nay có khoảng 252.761 cây đã xác nhận được nguồn gốc xuất xứ, sản lượng sâm khai thác hàng năm đạt 05 - 07 tấn, tương đương doanh thu khoảng 300 - 420 tỷ đồng; bảo tồn và phát triển cây quế Trà My, từ 2018 - 2020, tỉnh đã hỗ trợ 4.312 triệu đồng để phát triển.

Ngoài ra, đời sống tinh thần của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Quảng Nam có nhiều tiến bộ hơn. Các loại hình nghệ thuật truyền thống lễ hội bị thất truyền, nay đã được bảo tồn và phát huy. Hiện nay, có 04 di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào DTTS được lập hồ sơ và đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia (múa tân tung da dá, nói lý hát lý, dệt thổ cẩm, trang trí cây Nêu và bộ Gu); có 32 di tích được xếp hạng (25 di tích cấp tỉnh, 07 di tích cấp quốc gia), có 04 thứ tiếng và chữ viết của người DTTS được biên soạn. Các thiết chế văn hóa phục vụ đồng bào các DTTS và miền núi được quan tâm đầu tư xây dựng. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mà trọng tâm là xây dựng thôn văn hóa, gia đình văn hóa được Nhân dân đồng tình hưởng ứng, đạt được nhiều kết quả.

Tuy nhiên, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Quảng Nam vẫn còn nhiều khó khăn. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; nhiều phong tục tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ; nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao, trình độ dân trí của đồng bào còn thấp; tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vẫn còn xảy ra ở một số địa phương.

Để tiếp tục nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Quảng Nam theo tinh thần Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam, thiết nghĩ trong thời gian đến, cần tập trung thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các giải pháp sau:

Một là, thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh để khắc phục tư tưởng trông chờ ỷ lại, nâng cao khả năng tự chủ trong tổ chức sản xuất và đời sống, khai thác tốt các tiềm năng, nguồn lực tại chỗ, tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và doanh nghiệp để vươn lên thoát nghèo bền vững.

Hai là, tiếp tục tập trung được thực hiện bố trí sắp xếp dân cư, ổn định sản xuất gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, tập trung ưu tiên bố trí sắp xếp dân cư để phòng tránh thiên tai ổn định chỗ ở, đảm bảo an toàn, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận được các điều kiện xã hội, cải thiện sinh kế, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội vùng ĐBDTTS và miền núi của tỉnh.

Ba là, tiếp tục huy động và sử dụng thực sự có hiệu quả các nguồn lực, bằng cách tập trung kêu gọi thu hút đầu tư vào các dự án về phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu như: hạ tầng công nghệ thông tin, thủy lợi, nước sạch đảm bảo yêu cầu.

Bốn là, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tăng cường thực hiện công tác đào tạo nghề cho Nhân dân vùng dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh theo hướng phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương và yêu cầu của thị trường lao động.

Năm là, đẩy mạnh việc bảo tồn, khai thác các giá trị văn hóa đặc trưng, phát huy vai trò của các di sản văn hóa trong xây dựng và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số. Thường xuyên thực hiện thu thập các hiện vật văn hóa của đồng bào các dân tộc; đầu tư xây dựng các điểm sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí, phát triển mạng lưới phát thanh - truyền hình thôn, xã; vận động Nhân dân vùng dân tộc thiểu số xóa bỏ những hủ tục lạc hậu cản trở sự phát triển của xã hội.

Tác giả: Nguyễn Thị Hiệp - Trường Chính trị tỉnh Quảng Nam

[Trở về]

Các tin mới:

Các tin khác:

Đại biểu dân cử với cử tri


    Liên kết web

    select

    Liên kết Website